|
Bác sĩ Nguyễn Trần Hoàng, Chuyên Khoa Nội Thương
Giết người thầm lặng nhưng nguy hiểm nhất
Hỏi: -Huyết áp bao nhiêu thì mới cần uống thuốc? Nếu uống thuốc mà huyết áp xuống thì có thể ngưng được không? -Có người nói rằng thuốc cao huyết áp có thể khiến bị hư gan, hư thận, điều đó có đúng không. -Mẹ tôi bị thiếu máu mà bác sĩ lại nói là cũng bị cao huyết áp. Tại sao không đủ máu mà lại bị cao máu? Huyết áp bao nhiêu là bình thường? Huyết áp bao nhiêu thì mới gọi là cao? -Huyết áp số trên hay số dưới quan trọng hơn?
Ðáp: Các bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới và ở Mỹ. Trong số các bệnh tim mạch, cao huyết áp là bệnh thường gặp nhất. Cao huyết áp là một trong những nguy cơ chính dẫn đến đột quị (do tai biến mạch não), các cơn kích tim (do cơ tim bị thiếu máu), suy tim, và suy thận. Ðây đều là các vấn đề rất thường gặp dẫn đến tàn tật suốt đời hoặc tử vong. Một bệnh nguy hiểm và thường gặp như vậy lại thường không được điều trị đúng mức. Vì cho đến khi bị các biến chứng kể trên, các bệnh nhân cao huyết áp thường không có triệu chứng gì cả, do đó mà họ hoặc là không biết mình bị bệnh, hoặc biết mà ỷ y, không chịu điều trị đúng mức. Vì vậy mà cao huyết áp được gọi là tên giết người thầm lặng, đã là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, dù cho là hiện nay đã có rất nhiều thuốc và phương cách điều trị rất rẻ tiền nhưng rất hiệu quả. Bệnh thường không được điều trị đúng mức cũng vì: - Bệnh thường cần được điều trị suốt đời. - Bệnh nhân thường không có các triệu chứng khó chịu (ví dụ như bệnh cảm thường không làm chết người nhưng làm người ta khó chịu và muốn chữa cho khỏi ngay). - Thường cần phải kết hợp với việc thay đổi lối sống, không phải là chuyện ai cũng làm được nếu không hiểu rõ sự nguy hiểm của bệnh, sự cần thiết phải thay đổi lối sống để chữa bệnh, cũng như cần phải có ý chí. - Ngay cả một số bác sĩ cũng không ý thức rõ sự nguy hiểm của bệnh và việc cần thiết phải chữa bệnh đúng mức ngay từ khi bệnh còn nhẹ và chưa gây ra biến chứng. - Việc chữa bệnh cần có sự phối hợp và quan hệ mật thiết giữa bác sĩ với bệnh nhân, và điều này cho đến nay vẫn không phải là điều thường gặp. Huyết áp là gì? Huyết là máu, áp là sức ép; huyết áp là sức ép của máu trên thành mạch máu. Nói một cách rất đơn giản, huyết áp thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính là: - Thể tích của máu trong cơ thể. - Ðộ đậm đặc của máu. - Sự co giãn của thành các mạch máu. Vì huyết áp là sức ép của máu trên thành mạch máu, chứ không phải là bản thân của máu, và có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, nên người bị thiếu máu vẫn có thể bị cao huyết áp. Huyết áp được ghi nhận bởi hai chỉ số, ví dụ như 120/80. - Số trên (120), được gọi là huyết áp tâm thu, tức là sức ép của máu trên thành mạch máu lúc tìm bóp để tống máu ra các động mạch. - Số dưới (80) được gọi là huyết áp tâm trương, tức là sức ép của máu trên thành mạch máu lúc tim giãn ra để nhận máu về từ các tĩnh mạch. - Ðơn vị được dùng để đo sức ép của máu lên thành mạch máu là milimét thủy ngân (mmHg). Ở những người lớn hơn 50 tuổi, huyết áp tâm thu nếu cao hơn 140 có ảnh hưởng quan trọng hơn nhiều đến nguy cơ bị các biến chứng tim mạch, so với chỉ số huyết áp tâm trương. Huyết áp như thế nào thì coi là cao? Ở người từ 18 tuổi trở lên, huyết áp được định nghĩa là cao khi sau khi được đo trong hai lần khám khác nhau, mỗi lần khám huyết áp được đo đúng cách ít nhất hai lần, và số trung bình của mỗi lần khám cho thấy: - Chỉ số tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 milimét thủy ngân, hoặc - Chỉ số tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 milimét thủy ngân. - Ví dụ, cả ba trường hợp sau, đều được coi là cao huyết áp: 140/65, hoặc 132/90, hoặc 147/90. Chỉ cần một trong hai số cao hơn 140 hay 90 là được coi là cao huyết áp. Huyết áp chỉ được coi là bình thường khi chỉ số tâm thu nhỏ hơn 120 hoặc chỉ số tâm trương nhỏ hơn 80. Khoảng giữa bình thường và cao huyết áp được gọi là tiền cao huyết áp. Tức là chỉ số tâm thu từ 120-139 và chỉ số tâm trương từ 80-89. Những người bị cao huyết áp cần phải điều trị bằng kết hợp việc dùng thuốc với thay đổi lối sống. Những người bị tiền cao huyết áp cần phải thay đổi lối sống để làm chậm lại việc bị cao huyết áp.
Hỏi: -Theo như bài trên của bác sĩ, nếu đo huyết áp thấy cao đến 140 hoặc 90 thì sẽ phải cần bắt đầu uống thuốc cao huyết áp, hay có cần làm thêm xét nghiệm gì không? Và sau khi uống thuốc, nếu thấy huyết áp trở lại bình thường, có thể ngưng thuốc hay không? -Tôi thấy bác sĩ nói cao huyết áp có thể có nguyên nhân, và trong các trường hợp này thì trị nguyên nhân sẽ hết hẳn bệnh mà không cần uống thuốc. Như vậy trước khi uống thuốc cao huyết áp có cần phải làm xét nghiệm tìm nguyên nhân để xem bệnh có thể chữa dứt tuyệt luôn hay không? -Bệnh cao huyết áp có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên khoa khác nhau, vậy, việc chữa trị bệnh, tốt nhất nên do bác sĩ gia đình hay bác sĩ chuyên khoa đảm nhiệm? Ðáp: Các khám nghiệm cần thiết cho người mới được chẩn đoán cao huyết áp Cho những người mới được chẩn đoán cao huyết áp, bác sĩ thường cần khám nghiệm tương đối toàn diện để xác định những điều sau đây: -Tìm hiểu cách sinh hoạt, cách ăn uống, thói quen (như có thể dục, hút thuốc, dùng xì ke ma túy...) để xem có những yếu tố nguy cơ nào làm tăng khả năng bị biến chứng tim mạch. Những điều này có thể rất có ích cho việc điều trị. -Tìm hiểu xem có thể có những nguyên nhân nào gây ra cao huyết áp hay không. -Tìm hiểu xem cao huyết áp đã có gây ra biến chứng ở cơ quan nội tạng nào chưa. Việc khám nghiệm bao gồm thăm (hỏi, bệnh sử, tiền sử, bệnh sử gia đình...), khám (toàn thân), thực hiện các xét nghiệm thường quy và các phương pháp chẩn đoán khác. Khám bệnh (physical examination) Thường bao gồm đo lại huyết áp hai bên cánh tay, cân đo để xác định chỉ số cân nặng (đã trình bày kỳ trước), khám tuyến giáp (thyroid gland), khám tim, phổi, thần kinh, xem có bị phù hay không... Ðều nhằm xác định mức cao huyết áp và tìm xem có biến chứng hoặc nguyên nhân của cao huyết áp hay không. Các xét nghiệm Các xét nghiệm cũng nhằm cùng mục đích với việc thăm khám toàn diện. Thường bao gồm việc làm điện tâm đồ (ECG-electrocardiogram), thử nước tiểu, thử máu xem có rối loạn các chất điện giải, thử cholesterol trong máu, chức năng thận. Thường chỉ cần các xét nghiệm căn bản, không cần các xét nghiệm để tìm nguyên nhân nếu việc khám cơ thể không cho thấy có gì gợi ý một nguyên nhân nào đó. Các xét nghiệm để tìm nguyên nhân có thể sẽ cần thiết nếu huyết áp cao không thể kiểm soát được sau một thời gian điều trị. Hoặc trong khi thăm khám như kể trên, có một hay nhiều yếu tố khiến bác sĩ nghĩ là bệnh có thể (nằm trong các trường hợp tương đối rất hiếm gặp) có nguyên nhân. Trong đại đa số các trường hợp, bác sĩ gia đình đều đã được đào tạo đầy đủ để trị liệu căn bệnh cao huyết áp rất thường gặp này. Chỉ trong trường hợp bệnh không thể được kiểm soát với trị liệu của bác sĩ gia đình, bệnh nhân mới cần được bác sĩ gia đình giới thiệu sang các bác sĩ chuyên khoa có liên quan. Các xét nghiệm tìm nguyên nhân (thường rất hiếm gặp), sẽ được bác sĩ gia đình thực hiện, hoặc thường là bác sĩ gia đình sẽ mời các bác sĩ chuyên khoa có thể liên quan đến nguyên nhân (được nghĩ đến) của bệnh, như bác sĩ chuyên khoa tim mạch, thận, hoặc nội tiết, phẫu thuật... cùng tham gia trong việc điều trị. Cần nhắc lại, 95% các trường hợp cao huyết áp là không có nguyên nhân rõ ràng, và do đó cần phải uống thuốc hạ huyết áp hầu như suốt đời. Trong một số trường hợp rất hiếm hoi, nếu sau một thời gian dùng thuốc, kết hợp với các phương pháp không dùng thuốc như thể dục, ăn uống lành mạnh, mà huyết áp trở lại mức bình thường, thì bác sĩ sẽ có thể giảm liều từ từ và ngưng thuốc nếu huyết áp vẫn được kiểm soát với liều thuốc tối thiểu. Tuyệt đối không nên tự ngưng thuốc. Vì khi uống thuốc, huyết áp sẽ phải giảm (là nhờ thuốc). Nếu ngưng thuốc đột ngột, huyết áp có thể tăng lên đến mức nguy hiểm (gây ra tai biến mạch não-strokes, gây liệt, nhồi máu cơ tim (heart attacks), hoặc các biến chứng khác. Phòng ngừa Hỏi: -Có cách nào để phòng bệnh cao huyết áp không? Nếu có thì phòng cách nào? -Tôi nghe nói bệnh cao huyết áp có thể gây ra rất nhiều biến chứng, làm sao để ngừa các biến chứng này? Ðáp: Khi nói về phòng ngừa, người ta thường nghĩ đến việc phòng sao cho khỏi bị bệnh. Thật ra, trong chuyên môn, có nhiều mức độ phòng ngừa khác nhau. Phòng ngừa cấp một (primary prevention) là phòng để khỏi bị bệnh, trong trường hợp này, là để khỏi bị bệnh cao huyết áp. Phòng ngừa cấp hai (secondary prevention) là rủi đã bị bệnh rồi thì cần phòng sao cho khỏi bị biến chứng. Phòng ngừa cấp ba (tertiary prevention) khi rủi đã bị biến chứng rồi thì phòng ngừa để biến chứng đừng trở nặng. Dĩ nhiên, nên phòng ngừa càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, đôi khi dù cố hết sức, mà bệnh cũng xảy ra, thì ta cần “lập phòng tuyến cố thủ” mới. Nói ngắn gọn, trong các mức độ phòng ngừa kể trên, các phương thức chính cần áp dụng và phối hợp chặt chẽ với nhau, là thay đổi lối sống lành mạnh hơn, phối hợp chặt chẽ với bác sĩ để dùng thuốc đúng và đều đặn. Thay đổi lối sống để phòng các biến chứng của cao huyết áp bao gồm các điều chính yếu sau đây: Giữ cân nặng ở mức vừa phải, ăn uống lành mạnh, vận động thể lực đúng mức và đều đặn, không (hay ngưng) hút thuốc lá (lào, xì gà, ống píp...) -Cân nặng vừa phải thường được tính bằng chỉ số cân nặng. Chỉ số cân nặng (CSCN, tiếng Anh gọi là Body Mass Index - BMI) được tính bằng cách chia cân nặng tính bằng kílô gam cho bình phương của chiều cao tính bằng mét. Ví dụ nặng 100 kg, cao 2m, CSCN =100/(2x2) = 25 kg/m2 Theo một số nghiên cứu, điều này có thể giúp huyết áp tâm thu giảm khoảng 5-20 mm Hg cho mỗi 10 kg giảm cân. -Trong việc ăn uống, nói chung, cần chú ý các điểm sau đây: -Ăn nhiều trái cây, rau, sữa ít béo, ăn ít chất béo và chất béo bão hòa -Giảm muối, ít hơn 2.4 g sodium or 6 g sodium chloride (khoảng một muỗng cà phê muối mỗi ngày). Theo một số nghiên cứu, điều này có thể giúp huyết áp tâm thu sẽ có thể giảm khoảng 2-8 mmHg. -Uống rượu vừa phải: dưới 2 drinks (1 oz or 30 mL ethanol; ví dụ 24 oz beer, 10 oz wine, or 3 oz 80-proof whiskey) mỗi ngày ở hầu hết các ông và dưới 1 drink mỗi ngày ở phụ nữ hay người nhẹ cân. Theo một số nghiên cứu, điều này có thể giúp huyết áp tâm thu sẽ có thể giảm khoảng 2-4 mm Hg. -Vận động thể lực ít nhất 30 phút mỗi ngày. Theo một số nghiên cứu, điều này có thể giúp huyết áp tâm thu giảm khoảng 4-9 mm Hg. -Bỏ hút thuốc sẽ giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung. Ảnh hưởng của các thay đổi này phụ thuộc vào liều lượng và thời gian, có thể mạnh hay yếu hơn ở những người khác nhau. Ðã bị bệnh rồi mà muốn ngừa biến chứng, thì bên cạnh việc áp dụng các phương pháp kể trên, cần phải uống thuốc đều đặn và theo dõi thường xuyên với bác sĩ để giữ huyết áp trong mức tốt nhất. Cần chú ý điều rất quan trọng là không nên tự ngưng thuốc khi chưa hỏi ý kiến bác sĩ. Vì nếu đang uống thuốc mà huyết áp trở nên “bình thường” thì đó là nhờ thuốc, nếu bỏ ngang thuốc, nhất là những người đang uống nhiều thuốc, thì huyết áp có thể tăng vọt lên đột ngột, rất nguy hiểm. Khi đã bị biến chứng rồi, thì bên cạnh việc dùng thuốc và các phương pháp kể trên, tập vật lý trị liệu đúng lúc và đểu đặn hay áp dụng các phương pháp được bác sĩ và các chuyên viên (tùy theo biến chứng gì), rất quan trọng, để hy vọng có thể giảm nhẹ hoặc tránh biến chứng trở nặng hơn, cũng như phòng các biến chứng khác.
Các trường hợp cao huyết áp có nguyên nhân Hỏi: Xin nói rõ hơn một chút về các trường hợp cao huyết áp có nguyên nhân và cách giải quyết các trường hợp này? Ðáp: Cần nhắc lại, khoảng 95 phần trăm các trường hợp cao huyết áp là không có nguyên nhân rõ ràng, và do đó cần phải uống thuốc hạ huyết áp hầu như suốt đời. Còn khoảng 5 phần trăm còn lại, cao huyết áp có thể do một nguyên nhân nào đó, và được gọi cao huyết áp thứ phát (secondary hypertension). Trong các trường hợp này, thường thì nếu giải quyết được các nguyên nhân (không phải nguyên nhân nào cũng có thể giải quyết được), huyết áp sẽ có thể trở lại bình thường (nếu bệnh nhân không bị cùng lúc cả cao huyết áp nguyên phát). Không phải bệnh nhân nào cũng cần phải được làm các xét nghiệm đặc biệt để tìm nguyên nhân. Thường thì các bệnh nhân mới được chẩn đoán là bị cao huyết áp chỉ cần được làm các xét nghiệm rất căn bản. Chỉ trong các trường hợp sau mới cần phải làm thêm các nghiên cứu xem có phải bị cao huyết áp thứ phát từ một nguyên nhân nào khác hay không: -Cao huyết áp trầm trọng, hoặc không đáp ứng với các điều trị thông thường. -Huyết áp đột ngột tăng lên bất thường, không kiểm soát được sau một thời gian tương đối bình ổn. -Bị cao huyết áp từ trước tuổi dậy thì. -Hoặc bị cao huyết áp trước tuổi ba mươi ở những người không có người trong gia đình bị cao huyết áp, không bị mập phì, và không phải là người da đen (các yếu tố kể trên có thể dẫn đến cao huyết áp sớm trước tuổi ba mươi). Một số các nguyên nhân có thể liên quan đến việc tăng huyết áp là: -Các bệnh thận nguyên phát (primary renal disease). -Cao huyết áp là một dấu hiệu thường thấy ở những người bị cao huyết áp cấp tính hay mạn tính, nhất là ở những người bị bệnh cầu thận hay mạch máu thận (glomerular or vascular disorders). -Các thuốc ngừa thai hoặc các loại hormone cho người có triệu chứng khó chịu của thời kỳ mãn kinh (oral contraceptives or hormone replacement therapy). -Một số thuốc ngừa thai hoặc nội tiết tố cho người mãn kinh có thể làm tăng huyết áp. Sự tăng huyết áp này thường vẫn trong mức dưới 140/90 (tiêu chuẩn cao huyết áp như đã trình bày). Tuy nhiên, đôi khi nó có thể làm cho huyết áp tăng đến tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh cao huyết áp. -Bị một loại bướu gọi là pheochromocytoma. -Ðây là một loại bướu tiết ra loại nội tiết tố (hormone) có thể làm cao huyết áp từng cơn (paroxysmal hypertension) trong khoảng phân nửa các trường hợp. Trong phân nửa các trường hợp còn lại, huyết áp có thể cao đều đều như trong các trường hợp cao huyết áp tiên phát. -Bị một rối loạn về nội tiết (hormone), gọi là primary hyperaldosteronism. -Những người bị rối loạn này thường có ba dấu hiệu là cao huyết áp, thử máu thấy giảm chất potassium không giải thích được tại sao, và bị kiềm hóa (unexplained hypokalemia, and metabolic alkalosis). -Bị một hội chứng gọi là Cushing's syndrome: cao huyết áp tâm trương một cách vừa phải, lại thường là nguyên nhân gây bệnh và tử vong ở các bệnh nhân bị hội chứng này (moderate diastolic hypertension, is a major cause of morbidity and death in patients with Cushing's syndrome). -Một số rối loạn nội tiết khác: các rối loạn cường hoặc suy giáp, cường cận giáp cũng là nguyên nhân gây cao huyết áp thứ phát. -Chứng ngưng thở trong khi ngủ: cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp khi thức giấc. -Phình động mạch chủ (coarctation of the aorta): Là một trong những nguyên nhân thường gặp dẫn đến cao huyết áp ở trẻ em nhỏ. Tùy theo triệu chứng của bệnh nhân, sau khi thăm khám kỹ lưỡng, bác sĩ gia đình có thể làm các xét nghiệm hoặc giới thiệu sang các bác sĩ chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị tận gốc của bệnh.
Thân mến, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng ( theo yduocngaynay.com )
Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|