|
Phẫu thuật nâng cằm thường được tiến hành riêng lẻ hoặc thực hiện cùng với phẫu thuật nâng mũi. Nếu không cẩn trọng trong việc phân tích và tôn trọng các đặc điểm giải phẫu thì có thể đưa đến các kết quả không vừa ý.
Byrd, Hobar nghiên cứu các đặc điểm lôi cuốn của khuôn mặt đã tìm thấy tỷ lệ liên quan giữa mũi, môi và cằm. Sau đó họ phát triển thành hệ thống phân tích để xác định các kích thước tối ưu cần thay đổi khi thực hiện phẩu thuật thẩm mỹ mũi và cằm. Đo khuôn mặt được dựa trên các mốc chuẩn, các mặt cắt chuẩn. Sau đây là một số liên hệ giữa mũi và cằm. Mũi: -Chiều dài lý tưởng của mũi (R-T) bằng khoảng cách từ điểm giửa của môi trên-môi dưới đến điểm thấp nhất của cằm (S-Me) trong trường hợp xương hàm bình thường. Trường hợp xương hàm nhỏ (cằm ngắn), chiều dài lý tưởng của mũi bằng 67% chiều dài của phần giữa mặt (gốc chân mày đến đáy mũi). -Chiều cao của đầu mũi lý tưởng = 67% chiều dài mũi lý tưởng. -Chiều cao của gốc mũi lý tưởng = 28% chiều dài mũi lý tưởng. Cằm: -Phần dưới của mặt (từ đáy mũi đến điểm thấp nhất của cằm, LFH) lý tưởng bằng hoặc dài hơn một ít (dài hơn ≤ 3 mm) so với phần giữa mặt (MFH). Nếu phần dưới mặt ngắn hơn phần giữa mặt, cằm được xem là ngắn. -Nếu phần dưới mặt dài hơn phần giữa mặt quá 3 mm, cằm được xem là dài. - Độ nhô của cằm bình thường nằm sau đường kéo dài từ giữa sống mũi đến môi trên (NLCP) trên bình diện nghiêng khoảng 3 mm. Ở nam, độ nhô bình thường của cằm nằm trùng với đường nêu trên. Có 8 loại bất thường của cằm được xác định sau khi phân tích khuôn mặt: - Cằm nhô không đủ. Đa số bệnh nhân sửa mũi có cằm nhô không đủ hoặc cằm nhô không đủ và ngắn. Hầu hết các phẫu thuật viên đều tin rằng kết quả của phẫu thuật sửa mũi sẽ tốt hơn nếu sửa chữa cằm được tiến hành cùng một lúc, thường là làm cho cằm dài hơn hoặc thỉnh thoảng làm cho cằm ngắn hơn. Giải phẫu học: -Phần xương hàm dưới bắt đầu từ góc xương hàm, tiếp đến là bờ dưới hàm và chấm dứt ở phần nhô ra trước là cằm. -Thần kinh ổ răng dưới là nhánh của thần kinh hàm, thuộc dây thần kinh số 5. Dây thần kinh này chạy vào trong rãnh xương hàm dưới cùng với mạch máu. Dây thần kinh này thoát ra khỏi xương hàm dưới trở thành dây thần kinh cằm (mental nerve) chi phối cho cảm giác của môi dưới và cằm. Khi cưa xương hàm dưới để tạo hình cằm, đường cưa phải cách lỗ ra của thần kinh ít nhất 4 mm để tránh làm tổn thương thần kinh cằm. -Các cơ ở cằm có nhiệm vụ kéo môi dưới xuống và được chi phối bởi nhánh hàm của dây thần kinh mặt. Khi phẫu thuật ở vùng cằm, cần đi sát bóc tách dưới màng xương để tránh làm tổn thương thần kinh mặt. Nâng cằm bằng mảnh ghép nhân tạo (alloplastic chin implant) -Chỉ định chính để đặt mảnh ghép nhân tạo, thường dùng là silicone đặc, là trường hợp cằm bị lẹm ít (thiếu độ nhô ít hơn 10 mm). Khi cần nâng cao độ nhô của cằm quá 10 mm, cần dùng kỹ thuật cưa xương để tạo hình cằm (osteoplastic genioplasty). Mảnh ghép được đặt để làm tăng độ nhô ra trước chứ không làm cằm dài ra. Tuy nhiên, có thể đặt mảnh ghép ở trước và hơi về phía dưới để tăng độ dài của cằm khoảng 2-3 mm. Nếu cần kéo dài cằm hơn 3 mm, cần dùng kỹ thuật tạo hình cằm bằng: Mảnh ghép: siliocne đặc được ưa chuộng nhất trong các loại mảnh ghép vì nó không bị biến dạng khi cơ thể tạo bao xơ bao quanh mảnh ghép như các loại mảnh ghép mềm. Chiều dầy của mảnh silicone từ 4 – 10 mm. Chọn lựa kích thước nào tùy thuộc vào cấu trúc xương hàm và mức độ cần điều chỉnh. Loại mảnh ghép hẹp: được dùng khi chỉ cần đẩy cằm ra trước một ít hoặc khi cần làm cho cằm có độ cong lồi ra trước. Tuy nhiên, loại này có thể tạo chỗ lõm ở hai bên không tự nhiên, tạo nên hai cục nhô của má và làm tăng các nếp nhăn ở dưới khóe miệng. Như vậy, mảnh ghép này chủ yếu được dùng cho người có cằm hình vuông với hai cạnh bên của xương hàm dưới nhô vừa và ở người trẻ có mô dưới da ở mặt còn săn chắc. Kỹ thuật mổ: -Mổ qua đường trong miệng hoặc đường mổ dưới cằm. -Chúng tôi thích dùng đường mổ trong miệng vì tạo túi để đặt mảnh ghép chính xác hơn, tạo được bờ dưới cằm rõ ràng hơn, ít bị di lệch mảnh ghép hơn, không có sẹo ngoài da. -Rạch cơ cằm để để bóc tách dưới màng xương: tránh tổn thương thần kinh, mảnh ghép ít bị di lệch. Không bóc tách quá bờ dưới của cằm để tránh mảnh ghép di lệch về phía dưới của cằm. -Đặt mảnh ghép vào đúng vào mặt trước của bờ dưới của cằm. Không đặt mảnh ghép ở cao sát với răng vì mảnh ghép đè lên phần xương ổ răng sẽ làm tiêu xương, dễ nhiểm trùng và rụng răng. -Khi đặt mảnh ghép, nhất là mảnh ghép rộng phải bóc tách qua hai bên, tránh mảnh ghép đè lên thần kinh cằm. - Phải gọt mảnh ghép thật ôm vào xương để tránh có khoảng trống giữa mảnh ghép và xương sẽ gây tụ dịch và mảnh ghép dễ bị lộ không tự nhiên. Có thể cố định mảnh ghép vào xương. Tuy nhiên, nếu bóc tách khoang vừa đủ chặt thì mảnh ghép rất khó di lệch. - Khâu phục hồi cơ cằm để tạo lớp vỏ bao che phủ mảnh ghép một cách tự nhiên, đặc biệt khi bệnh nhân biểu lộ cảm xúc ở mặt và ngăn ngừa cằm bị xệ xuống dưới. - Khâu vết mổ ở trong miệng. - Băng ép, uống kháng sinh, súc miệng bằng thuốc sát trùng, ăn lỏng trong 1 tuần đầu sau mổ. Biến chứng: - Mảnh ghép không cân đối: Do mảnh ghép bị lệch khi đặt trong mổ. Cẩn thận tạo khoang đặt mảnh ghép chính xác trong mổ sẽ tránh được biến chứng nầy. - Nhiễm trùng: tỷ lệ thấp khoảng 1%. Không có bằng chứng cho thấy đường mổ trong miệng có tỷ lệ nhiễm trùng cao hơn đường mổ ở ngoài da. - Tổn thương thần kinh cằm, cơ vùng cằm, tụ máu là các biến chứng có thể tránh được khi mổ cẩn thận, đúng kỹ thuật. - Tiêu xương ít xảy ra khi đặt mảnh ghép dầy < 10 mm được đặt vào mặt trước của bờ dưới xương hàm. Tạo hình cằm bằng kỹ thuật chỉnh hình xương (osteoplastic genioplasty) - Đây là phương pháp linh động hơn đặt mảnh ghép vì giúp sửa chữa tạo hình tất cả các khiếm khuyết của cằm. - Chỉ định chính là khi cần tăng độ nhô ra trước của cằm hơn 10 mm, khi cần tăng độ dài của cằm. Kỹ thuật: - Tiêm thuốc tê tại chỗ hoặc gây mê. - Mổ tương tự như đặt mảnh ghép với đường mổ trong miệng. - Bóc tách dưới màng xương cho tới bờ dưới của xương hàm dưới. - Tránh bóc nhiều vào lớp mô mềm dưới da quá bờ dưới của xương hàm vì có các mạch máu từ mô mềm xuyên qua màng xương để nuôi xương. - Bóc tách qua hai bên tới bờ trước cơ nhai cho tới khi thấy thần kinh cằm. - Đánh dấu, vẽ trên xương hàm, cưa xương hàm cách lỗ ra của thần kinh cằm ít nhất 4 mm. - Đẩy phần xương hàm được cưa ra trước hoặc sang bên hoặc có thể ghép xương khi muốn kép dài cằm ra nhiều … cố định bằng vis, plates titanium. - Khâu vết mổ và chăm sóc sau mổ như trong kỹ thuật đặt mảnh ghép. Biến chứng: - Tụ máu, nhiễm trùng: ít gặp. - Không cân đối do lỗi kỹ thuật. - Tiêu xương ở mức độ nhẹ. 75%-100% mảnh xương khi được di chuyển ra trước sẽ sống vĩnh viễn nếu ta bảo tồn mạch máu nuôi ở bờ dưới xương hàm. - Dị cảm, giảm cảm giác xảy ra tạm thời. - Tổn thương thần kinh cằm có thể tránh được, đặc biệt không kéo nhiều quá trên mô mềm ở hai bên xương hàm.
-Cằm và cổ là hai phần bổ xung cho nhau. -Hút mỡ hoặc căng da cổ giúp làm tăng rõ rệt hình dạng của cổ, cằm. -Ngược lại, khi ta làm tăng độ nhô của cằm ra trước sẽ giúp góc hàm bớt tù và cải thiện vùng cổ, đặc biệt là với kỹ thuật đẩy xương cằm ra trước vì làm căng lớp cơ bám vào bờ dưới cằm. Tiến sĩ bác sĩ Nguyễn Việt Thành Giảng viên đại học Y Dược TP HCM ( suamui.vn ) Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|


Mũi và cằm đẹp phải hài hòa với phần còn lại của khuôn mặt. Do đó, kích thước của từng phần trên khuôn mặt phải được đánh giá trên từng người để có kế hoạch chỉnh sửa tối ưu nhất.









































































