|
Một năm tại BV Nhi Đồng1, riêng ngộ độc khoai mì có khoảng trên dưới chục ca. Đó vẫn là loại ngộ độc thường thấy ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ- nơi trồng khá nhiều loại khoai mì cao sản (đặc điểm củ to, vỏ trắng- chỉ để sản xuất chế biến chứ không ăn được như khoai mì thường) có lượng độc tố cyanhydric rất cao gây ngộ độc vô cùng nguy hiểm nhất là với trẻ em. Như trường hợp bé Lộc nêu trên, em luộc khoai ăn vào lúc 5 giờ chiều thì đến 12 giờ đêm bắt đầu ói mữa và khó thở, hôn mê ngay sau đó. Nếu không có thuốc giải độc đặc hiệu Thiosulphate de sodium thì bé Lộc đã cầm chắc cái chết trong tay. Giá một ống Thiosulphate de sodium hiện chỉ khoảng 13.500đ- nghĩa là để cứu sống một đứa bé chỉ cần khoảng trên dưới 200.000đ- thế nhưng hầu như tủ thuốc cấp cứu các BV(cả ở TPHCM lẫn các tỉnh) lại rất hiếm loại thuốc này! Và theo BS Bạch Văn Cam- trưởng Khối hồi sức cấp cứu BV Nhi Đồng 1- Phó chủ tịch Hội hồi sức cấp cứu và chống độc VN:không chỉ Thiosulphate de sodium mà nhiều loại thuốc chống độc thông dụng khác như Blue de Methylene (điều trị ngộ độc củ dền, phẩm nhuộm công nghiệp, thuốc súng...), Naloxone (điều trị ngộ độc morphine...), than hoạt tính(tác dụng trên hầu hết các chất gây ngộ độc), huyết thanh kháng nọc (điều trị rắn cắn)... hiện nay đều khan hiếm trong các tủ thuốc cấp cưú BV mặc dù chúng đều nằm trong danh mục thuốc thiết yếu của tủ cấp cứu theo quy định của Bộ Y Tế! Thậm chí đơn giản và được dùng phổ biến trong cấp cứu như than hoạt tính hiện nay cũng rất khó tìm mua ở các hiệu thuốc, các BS ở BV đã phải mua từng bao than hoạt ở các cửa hàng hóa chất rồi về phân thành gói để sữ dụng một cách thủ công tự chế, chứ không một cơ sở dược phẩm nào sản xuất thành phẩm y tế này. Trong khi đó, theo BS Cam vì tình hình thiếu thuốc như vậy và cũng do thiếu thông tin nên ở một số BV tỉnh đã sữ dụng viên than Carbophos thay thế than hoạt trong điều trị ngộ độc vừa đắt tiền hơn rất nhiều nhưng lại không hề có tác dụng giải độc vì nó chỉ có tác dụng chống sình bụng mà thôi! Sở dĩ các loại thuốc chống độc khan hiếm trên thị trường là do các công ty dược trong nước rất ít sản xuất và cũng hiếm có thuốc nhập ngoại -chung quy cũng vì vấn đề lợi nhuận: thuốc chống độc nhu cầu không nhiều như các loại thuốc chữa bệnh thông thường khác nên sản xuất thì không có lời hay nhập về bán thì lợi nhuận cũng không cao. Do đó hình như không ai muốn quan tâm đến vấn đề này- ngay cả những cấp lãnh đạo ngành y tế đã định ra danh mục thuốc cấp cứu thiết yếu cũng không cần biết sự thiếu đủ đó ra sao mà cứ để mặc các BV tự loay hoay xoay sở? Trong khi đó, hiện nay số lượng bệnh nhân hàng năm chết vì các loại ngộ độc là một con số không nhỏ so với nhiều loại bệnh dịch mà chúng ta đã và đang khống chế được. Các nhà quản lý y tế cần lưu tâm đến vấn đề này trong chiến lược đầu tư cho lãnh vực điều trị với những nghiên cứu thống kê cụ thể. Riêng với nhi khoa, ngộ độc do tai nạn, bất cẩn, do thiếu hiểu biết trong sinh hoạt vẫn là chuyện thường ngày ở trẻ em... như tại khoa cấp cứu BV Nhi đồng 1 có gần 200 ca ngộ độc nặng nhập viện hàng năm. Đó là chưa kể số bệnh nhi đã tử vong ngay tại BV địa phương vì không thuốc chữa và không kịp chuyển lên tuyến trên như chuyện rắn độc cắn hay chuyện ăn khoai mì cao sản. Và các BS, các bậc phụ huynh sẽ vẫn tiếp tục xót xa khi phải bó tay trước những bệnh nhi bị các loại ngộ độc đó chỉ vì thiếu thuốc chứ không phải vì thiếu khả năng hay nhiệt tình trách nhiệm? Thúy Hà Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|


Ngày 8.10.2002, Khoa Hồi sức 



